Hạt hút ẩm bị rò rỉ: nguyên nhân và cách phòng tránh

Container cà phê về đến cảng đích, mở cửa thấy hai bao lớp trên có vệt loang, sờ vào thấy nhớt. Không phải nước mưa, cũng không phải cargo sweat. Chất hút ẩm đã vỡ. Hạt hút ẩm bị rò rỉ là dạng sự cố khó biện hộ nhất với khách hàng, vì nguồn gây bẩn chính là thứ được lắp vào để bảo vệ hàng.

Rò rỉ không phải tai nạn ngẫu nhiên

Canxi clorua hút nước đến mức tự tan thành dung dịch. Đó là bản chất vật liệu, không phải lỗi. Toàn bộ thiết kế của một túi hút ẩm container là để giữ khối dung dịch đó lại nơi nó sinh ra, suốt hành trình rung lắc, nghiêng và va đập.

Nên rò rỉ luôn là hệ quả của một trong hai điều: lớp giữ nước bị phá vỡ về mặt vật lý, hoặc lượng nước sinh ra vượt khả năng giữ của kết cấu. Hiểu theo cách này, rò rỉ phòng được bằng quy trình. Chi tiết quá trình chuyển từ hạt rắn sang dung dịch nằm trong bài cơ chế hút ẩm của CaCl2.

Hai công nghệ giữ nước, hai kiểu rủi ro

Chất hút ẩm container chia thành hai nhóm theo cách xử lý nước đã hút.

Nhóm giữ nước dạng gel

Canxi clorua trộn với tinh bột; nước hút vào phản ứng với tinh bột tạo thành gel. Absortech mô tả nhóm này là “gel-based desiccants transform absorbed moisture into a leak-proof gel”, và với dòng AbsorGel Blanket là “calcium chloride of 94% purity and modified starch” bọc trong “permeable leakage-proof material”. Gel không chảy, nên túi dạng này lắp được cả dọc lẫn ngang.

Nhóm giữ nước dạng lỏng

Nước hút vào được dẫn xuống khoang chứa ở đáy, vẫn ở dạng dung dịch. Absortech mô tả nhóm này là “liquid-based desiccants collect moisture in a secure reservoir, making them ideal for upright positioning”. Nhóm này đòi hỏi tư thế đứng; lật ngang hoặc để đổ là mất cơ chế giữ nước.

Tiêu chíDạng gelDạng lỏng
Trạng thái nước đã hútGel, không chảyDung dịch trong khoang chứa
Tư thế lắpDọc hoặc ngangChỉ dạng đứng
Rủi ro khi lật, đổThấpCao
Khi vỏ bị xéGel thoát chậm, khoanh vùng đượcDung dịch loang nhanh
Hàng xếp sát trầnDùng được dạng tấm, chăn phủHạn chế

So sánh kiểu treo và kiểu đặt nằm trong bài túi hút ẩm container: treo hay đặt.

Dung dịch rò ra làm hỏng hàng theo ba cơ chế

  • Ăn mòn kim loại. Dung dịch canxi clorua là chất điện ly chứa ion clorua. Clorua phá lớp thụ động trên bề mặt thép và đẩy nhanh ăn mòn điểm. Vệt dung dịch đọng lại tạo pin ăn mòn cục bộ, nên vết rỉ thường sâu và khoanh vùng chứ không phủ đều. Xem thêm độ ẩm tương đối và tốc độ ăn mòn thép.
  • Thấm và để lại vết. Carton, giấy kraft, bao PP dệt, vải và da hút dung dịch theo mao dẫn. Vết loang rộng hơn chỗ rò ban đầu và không mất khi khô, vì muối ở lại trong thớ vật liệu. Nhãn bong, hộp mất độ cứng, bao biến dạng.
  • Nhiễm vào nông sản, thực phẩm. Với cà phê, hạt điều, tiêu hay gạo, phần tiếp xúc trực tiếp là mất. Muối đã ngấm vào hạt, không có khâu xử lý nào cứu được.

Điểm chung: thiệt hại tập trung ngay dưới hoặc cạnh vị trí lắp chất hút ẩm. Đây cũng là cách nhận diện nguyên nhân, vì hỏng do cargo sweat phân bố rộng hơn nhiều.

Năm nguyên nhân làm hạt hút ẩm bị rò rỉ

  • Vỏ túi bị xé khi lắp. Kéo túi qua mép pallet, góc thùng gỗ, đai thép, hoặc dùng dao rọc mở thùng và cắt luôn vào vỏ. Vết xé nhỏ lúc túi còn khô không thấy được, nhưng nó mở ra khi khối gel nở.
  • Lắp sai tư thế. Túi thiết kế cho tư thế đứng bị đặt nằm trên mặt hàng cho nhanh, hoặc túi treo tuột khỏi lashing ring giữa hành trình.
  • Bị đè nén. Túi kẹp giữa khối hàng và trần, hoặc giữa hai pallet, chịu lực nén suốt chuyến; khối gel bị ép ra theo đường chỉ may hay mối dán. Đây là lý do nhà sản xuất nêu khoảng hở lắp đặt, ví dụ AbsorGel Blanket cần “a 25 mm space to the container ceiling”.
  • Hàng quá ẩm từ đầu. Khi độ ẩm hàng lúc đóng vượt xa mức dự tính, lượng nước sinh ra lớn hơn thiết kế. Kết cấu giữ nước làm việc ở giới hạn, và mối dán yếu nhất nhường trước.
  • Túi đã hút ẩm sẵn trong kho. Để ngoài bao bì gốc, hoặc bao bì gốc đã bị chọc, trong kho nóng ẩm. Túi đã nặng và mềm trước khi vào container.

Ba điểm cần siết khi lắp đặt

Mở bao bì gốc tại chỗ lắp, không mở trước. Túi chỉ ra khỏi bao bì gốc khi container đã sẵn sàng nhận. Mở bằng tay theo đường xé có sẵn, không dùng dao. Túi đã mở mà chưa lắp thì không cất lại kho.

Kiểm tra bằng tay trước khi lắp. Túi mới phải cứng và rời, cảm nhận được hạt bên trong. Túi nào nặng hơn, mềm hơn hoặc đã dẻo thì loại ra.

Xác nhận khoảng hở và điểm neo. Dạng treo: túi khóa chắc vào lashing ring, không chạm hàng. Dạng đặt ngang: còn khoảng hở tới trần theo hướng dẫn nhà sản xuất, túi không bị kẹp giữa hai khối hàng. Chi tiết trong bài tấm hút ẩm dạng phủ trên mặt hàng.

Một chi tiết hay bị bỏ qua là tình trạng container rỗng. CTU Code yêu cầu “closed CTUs should be clean, dry and free of residue and/or persistent odours from previous cargo”. Sàn còn đinh nhô, mảnh kim loại hay dằm gỗ là nguồn xé vỏ túi khi hàng xê dịch.

Khi đã có vết rò: xử lý theo thứ tự

  • Chụp ảnh nguyên trạng trước khi di chuyển bất cứ thứ gì: vị trí túi, vị trí vệt loang, số kiện bị ảnh hưởng.
  • Tách ngay kiện bị thấm ra khỏi lô; dung dịch còn lan theo mao dẫn khi kiện còn xếp chồng.
  • Hàng kim loại: rửa nước sạch rồi làm khô hoàn toàn. Lau khô mà không rửa chỉ dàn mỏng muối ra diện rộng hơn.
  • Hàng thực phẩm, nông sản: loại phần tiếp xúc, không trộn lại vào lô.
  • Giữ lại túi bị rò. Vết xé, mối dán bung hay dấu nén trên vỏ cho biết nguyên nhân là lắp đặt, vận chuyển hay sản phẩm.

Bước cuối quan trọng nhất cho lần sau: phần lớn sự cố rò là lỗi quy trình lặp lại, nên xác định đúng nguyên nhân trên một túi chặn được cả chuỗi container sau đó.

Chọn sản phẩm theo mức rủi ro của hàng

Hàng chịu được vệt nhỏ và container còn không gian treo đứng thì dạng lỏng vẫn hợp lý. Ngược lại thì chọn dạng gel và chọn tư thế lắp không đè nén. Dải sản phẩm container của Absortech gồm Absorpole, Absorbag, AbsorGel Hanging, AbsorGel Blanket, AbsorGel Max & Compact và AbsorGel Sheet, khác nhau cả về công nghệ giữ nước lẫn tư thế lắp, chi tiết trên trang chất hút ẩm container của Absortech.

Mức ẩm cần chặn thì tùy loại hàng. CTU Code nêu hai ngưỡng tham chiếu: “a relative humidity of 40% or more will lead to an increasing risk of corrosion of ferrous metals” và “a relative humidity of 75% or more will lead to an increasing risk of mould growth on substances of organic origin”. Hai ngưỡng này quyết định lượng chất hút ẩm cần lắp, và lượng lắp đẩy kết cấu tới đâu thì rủi ro rò tới đó. Toàn văn trong CTU Code của IMO, ILO và UNECE.

Cần tư vấn chọn loại chất hút ẩm

NH Group Việt Nam phân phối chất hút ẩm container Absortech, tư vấn dạng sản phẩm, lượng lắp và quy trình lắp đặt theo từng mặt hàng, từng tuyến vận chuyển. Xem danh mục chất hút ẩm Absortech hoặc liên hệ để được báo giá.

Viết một bình luận

0901.86.96.99
0901.86.96.99